Tài chính Chứng Khoán Sự kiện Tiêu điểm

Vụ bê bối tài chính Enron (2001)

Enron 2001 đánh dấu vụ bê bối kế toán doanh nghiệp khét tiếng nhất mọi thời đại. Sự sụp đổ chỉ sau một đêm của công ty lớn nhất Hoa Kỳ đã làm rung chuyển Phố Wall và làm lung lay niềm tin của các nhà đầu tư vào cốt lõi của nó. Hậu quả để lại không những là hàng tỷ đô la bị đánh cắp, hàng nghìn việc làm bị xóa sổ, hàng chục án hình sự và thậm chí có cả một vụ tự tử đã xảy ra. 

Hãy cùng lật lại câu hỏi của rất nhiều người rằng làm thế nào mà một doanh nghiệp hùng mạnh vào thời điểm đó lại chỉ còn một đống tro tàn sau một đêm. Điều khó hiểu là làm thế nào mà ban lãnh đạo doanh nghiệp có thể đánh lừa các cơ quan quản lý bấy lâu nay bằng các khoản nắm giữ giả mạo và hạch toán ngoài sổ sách.

 

Nguồn gốc của Doanh nghiệp năng lượng Enron

Doanh nghiệp năng lượng Enron

Enron được thành lập vào năm 1985 sau sự hợp nhất giữa Công ty Khí đốt Tự nhiên Houston Natural Gas Co. và Omaha, InterNorth Inc. có trụ sở tại Neb. Sau sự hợp nhất, Kenneth Lay, người từng là giám đốc điều hành (CEO) của Houston Natural Gas, trở thành CEO của Enron. 

Việc bãi bỏ quy định đối với thị trường năng lượng cho phép các công ty đặt cược vào giá trong tương lai, và Enron đã sẵn sàng để tận dụng lợi thế. Năm 1990, Lay thành lập Enron Finance Corp. và bổ nhiệm Jeffrey Skilling, người từng là cố vấn của McKinsey & Co. đã gây ấn tượng với Lay, làm người đứng đầu tập đoàn mới. Skilling khi đó là một trong những đối tác trẻ nhất tại McKinsey. 

Mark-to-Market

Skilling gia nhập Enron vào một thời điểm tốt đẹp. Hai năm sau, Skilling đã tạo ra một kỹ thuật kế toán mới được gọi là kế toán theo thị trường (MTM), được Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ (SEC) cấp phép chính thức vào năm 1992. Môi trường pháp lý tối thiểu của thời đại đã cho phép Enron phát triển. 

Kỹ thuật kế toán MTM cho phép một công ty điều chỉnh giá trị của tài sản trên bảng cân đối kế toán từ giá trị lịch sử của chúng sang giá trị thị trường hợp lý hiện tại (FMV), và do đó có nghĩa là thu nhập có thể được tính toán như một ước tính về giá trị hiện tại của dòng tiền ròng trong tương lai.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, phương pháp này có thể bị thao túng, vì MTM không dựa trên chi phí “thực tế” mà dựa trên “giá trị hợp lý”, khó xác định hơn. Một số người tin rằng MTM là sự khởi đầu của sự kết thúc đối với Enron, vì về cơ bản nó cho phép tổ chức ghi nhận lợi nhuận ước tính dưới dạng lợi nhuận thực tế. 

Ví dụ, nếu một hợp đồng trị giá 100 triệu đô la trong 10 năm tới, kế toán MTM sẽ cho phép một công ty ghi 100 triệu đô la vào sổ sách của mình vào ngày hợp đồng được ký kết, bất kể liệu thỏa thuận cuối cùng có khớp với kỳ vọng hay không. Do đó, Enron đã có thể tăng giá trị hiện tại của mình thông qua các báo cáo tài chính, về cơ bản hơn và cao hơn những gì nó thực sự kiếm được, làm xáo trộn sự thật về hiệu quả kinh doanh của mình.

Vào cuối những năm 1990, bong bóng dotcom bùng phát mạnh mẽ và NASDAQ đạt 5.000. Cổ phiếu mang tính cách mạng Internet đang được định giá ở mức phi lý và do đó, hầu hết các nhà đầu tư và cơ quan quản lý chỉ đơn giản là chấp nhận giá cổ phiếu tăng vọt như mức bình thường mới.

Bom tấn kỹ thuật kế toán MTM trong Enron Broadband Services

Điều này có lẽ được minh họa rõ ràng hơn khi Enron Broadband Services, một công ty con của Enron, hợp tác với Blockbuster vào tháng 7 năm 2000 trong một thỏa thuận kéo dài 20 năm để bán các dịch vụ phim theo yêu cầu thông qua mạng băng thông rộng của mình. Việc sử dụng kỹ thuật kế toán MTM có nghĩa là Enron có thể ghi tất cả các dự báo trong 20 năm tới từ thương vụ — trong trường hợp này là 110 triệu đô la lợi nhuận ước tính vào báo cáo tài chính giữa năm 2000.

Nhưng mối quan hệ hợp tác cuối cùng đã bị chấm dứt sau khi các hãng phim bày tỏ sự phản đối của họ đối với việc Blockbuster cung cấp các dịch vụ như vậy. Tuy nhiên, thỏa thuận thất bại và sự rút lui của Blockbuster không ngăn được Enron tiếp tục đòi lợi nhuận trong tương lai và do đó bán cổ phiếu của công ty với giá tăng cao, mặc dù thương vụ này dẫn đến thua lỗ. Có thể cho rằng, đây là sự cố lớn đầu tiên bắt đầu sự giám sát từ bên ngoài vào các giao dịch của Enron và các hoạt động MTM đáng ngờ của nó.

Enron Broadband Services

Cuối cùng, Giám đốc điều hành của đơn vị, Joseph Hirko, và các phó chủ tịch F. Scott Yeager và Rex Shelby đã bị buộc tội âm mưu, gian lận, giao dịch nội gián và rửa tiền liên quan đến những hoạt động đó. Và Kevin Howard, cựu giám đốc tài chính (CFO), và Michael W. Krautz, cựu giám đốc kế toán cấp cao của Enron Broadband Services, bị buộc tội âm mưu và gian lận liên quan đến việc ngụy tạo thu nhập bắt nguồn từ thương vụ Blockbuster thất bại.

Đến giữa năm 2000, EnronOnline (EOL) do Enron tạo ra để người dùng thực hiện các giao dịch điện tử tập trung vào hàng hóa đã thực hiện gần 350 tỷ USD giao dịch. Khi bong bóng dotcom bắt đầu vỡ, Enron quyết định xây dựng các mạng viễn thông băng thông rộng tốc độ cao. Hàng trăm triệu đô la đã được chi cho dự án này, nhưng cuối cùng công ty đã nhận ra rằng hầu như không thu được lợi nhuận.

Khi cuộc suy thoái xảy ra vào năm 2000, Enron đã tiếp xúc đáng kể với những phần biến động nhất của thị trường. Kết quả là, nhiều nhà đầu tư tin tưởng và chủ nợ nhận thấy rằng mình đang rơi vào tình trạng mất giá trị khi giá trị vốn hóa thị trường biến mất.

Một chuỗi các sai phạm liên tiếp 

Công ty cũng đã sử dụng các thủ thuật kế toán để phân loại sai các giao dịch cho vay là doanh thu ngay trước ngày lập báo cáo tài chính hàng quý. 

Cụ thể, họ đã ký một thỏa thuận với Merrill Lynch, trong đó ngân hàng Hoa Kỳ mua sà lan của Nigeria với bảo lãnh mua lại từ Enron ngay trước thời hạn thu nhập. Enron đã báo cáo sai khoản vay cầu này là một vụ mua bán thực sự trước khi mua lại sà lan vài tháng sau đó. Merrill Lynch cuối cùng đã bị quy kết vào tháng 11 vì vai trò hỗ trợ Enron trong gian lận kế toán, với một số giám đốc điều hành của ngân hàng phải ngồi tù gần một năm.

Enron đã che giấu khoản nợ của mình như thế nào?

Enron đã che giấu khoản nợ của mình như thế nào?

Giám đốc tài chính Andrew Fastow với sự hỗ trợ của Skilling, Lay và hội đồng quản trị đã dàn dựng một kế hoạch sử dụng các phương tiện chuyên dụng ngoại bảng (SPV), còn được gọi là các thực thể có mục đích đặc biệt (SPE), để che giấu hàng núi nợ và tài sản độc hại của Enron khỏi các nhà đầu tư và chủ nợ. Mục đích chính của các SPV này là che giấu thực tế kế toán hơn là kết quả hoạt động.

Giao dịch Enron-to-SPV với tiêu chuẩn: Enron sẽ chuyển một số cổ phiếu đang tăng nhanh của mình sang SPV để đổi lấy tiền mặt hoặc một tờ giấy bạc. SPV sau đó sẽ sử dụng cổ phiếu để bảo vệ một tài sản được liệt kê trên bảng cân đối kế toán của Enron. Đổi lại, Enron sẽ đảm bảo giá trị của SPV để giảm rủi ro đối tác rõ ràng.

Mặc dù mục đích của họ là che giấu thực tế kế toán, nhưng SPV không phải là bất hợp pháp. Một điểm khác biệt chính là các SPV được vốn hóa hoàn toàn bằng cổ phiếu Enron. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phòng ngừa rủi ro của các SPV nếu giá cổ phiếu của Enron giảm. Nguy hiểm không kém là sự khác biệt đáng kể thứ hai: việc Enron không tiết lộ xung đột lợi ích. 

Ban lãnh đạo của Enron tin rằng giá cổ phiếu của mình sẽ tiếp tục tăng giá – một niềm tin tương tự như niềm tin đối với Long-Term Capital Management, một quỹ đầu cơ lớn, trước khi sụp đổ vào năm 1998. Cuối cùng, cổ phiếu của Enron sụt giảm. Giá trị của các SPV cũng giảm, buộc các bảo đảm của Enron có hiệu lực. 

Sau đó, Fastow đã tuyên bố làm chứng trước Quốc hội Hoa Kỳ về hậu quả của vụ bê bối và cũng xác nhận rằng bản thân ông “được hưởng lợi rất nhiều từ các mối quan hệ đối tác”. Thực sự, ông ấy đã bỏ túi khoảng 45 triệu đô la lợi nhuận từ hoạt động của mình. Vào tháng 1 năm 2004, ông ấy đã thú nhận với hai tội danh lừa đảo, đồng ý với mức án tù lên đến 10 năm và bị mất 24 triệu đô la. “Tôi đã trở thành một anh hùng cho Enron. Chúng tôi đã sử dụng điều này để tăng thu nhập của mình.”

Con dốc phá sản của Enron

Thương vụ Blockbuster thất bại đã khởi đầu cho một làn sóng giám sát dần dần vào các tài khoản của công ty từ cánh báo chí tài chính. Tạp chí Texas đã đăng một câu chuyện vào tháng 9 năm 2000 về những thiếu sót và thiếu minh bạch xung quanh các kỹ thuật kế toán MTM đang ngày càng được ngành năng lượng áp dụng. 

Tiếp theo sau đó, bài báo “Enron có bị định giá quá cao không?” Đặt câu hỏi về việc định giá cổ phiếu của công ty và cho rằng các nhà đầu tư không biết chính xác Enron kiếm tiền như thế nào, trong khi những lo ngại của tác giả bài báo, Bethany McLean, đã bị Skilling bác bỏ khi cô cố gắng thảo luận về những phát hiện của mình với anh ta trước khi xuất bản bài báo. 

Vào cuối tháng 10, sau khi các nhà phân tích phàn nàn ngày càng nhiều về sự không rõ ràng trong báo cáo tài chính của Enron, cơ quan xếp hạng Moody’s đã hạ xếp hạng tín dụng của Enron xuống chỉ còn hai mức so với tình trạng rác. Vài ngày sau, công chúng tiết lộ rằng SEC đã bắt đầu một cuộc điều tra chính thức về Enron và các giao dịch của nó với “các bên liên quan”.

Vào cuối tháng 11 năm 2001, giá cổ phiếu của Enron đã giảm xuống dưới 1 đô la / cổ phiếu, trái ngược hoàn toàn với mức đỉnh vào giữa năm 2000 là 90,75 đô la. Công ty ước tính có 23 tỷ USD nợ phải trả từ cả các khoản nợ chưa thanh toán và các khoản vay được bảo lãnh, làm dấy lên suy đoán rằng công ty sẽ phải tuyên bố phá sản. Enron Europe, công ty mẹ cho các hoạt động của Enron ở Lục địa Châu Âu, là công ty đầu tiên làm như vậy vào ngày 30 tháng 11.

Con dốc phá sản của Enron

Với tổng tài sản 63,4 tỷ USD, Enron là vụ phá sản doanh nghiệp lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ cho đến khi xảy ra vụ bê bối WorldCom chỉ một năm sau đó. Khoảng 4.000 việc làm đã bị mất và gần 2/3 trong số 15.000 kế hoạch tiết kiệm của nhân viên phụ thuộc vào cổ phiếu Enron, vốn được mua với giá 83 USD vào đầu năm, đã trở nên vô giá trị.

Arthur Andersen là một trong những người đầu tiên thương vong trong sự sụp đổ khét tiếng của Enron. Andersen bị cáo buộc đã không áp dụng đủ các tiêu chuẩn trong quá trình kiểm toán sổ sách của Enron và tự tiến hành theo cách đơn giản là nhận phí của mình mà không kiểm tra đầy đủ các thông lệ kế toán của Enron. Vào tháng 6 năm 2002, công ty kế toán bị kết tội cản trở công lý vì đã cắt nhỏ các tài liệu tài chính của Enron để che giấu chúng với SEC.

Cuối cùng một sự thật đã được tiết lộ rằng một số xung đột lợi ích đã nảy sinh giữa Andersen và Enron. Cụ thể, tại văn phòng ở Houston của Andersen, nơi thực hiện các cuộc kiểm toán, người ta cũng phát hiện ra rằng Ban lãnh đạo của Enron đã gây áp lực đáng kể lên các kiểm toán viên của Andersen để đáp ứng kỳ vọng thu nhập của nó. 

Enron sẽ thuê các công ty kế toán khác trong thời gian ngắn để thực hiện một số nhiệm vụ kế toán và do đó tạo ấn tượng rằng nó sẽ thay thế Andersen. Việc cắt nhỏ gần 30.000 email và các tệp khác sau khi sơ suất của Enron được công khai cũng làm dấy lên nghi ngờ về sự thông đồng rộng rãi giữa hai bên. Cuối cùng, sự can thiệp của Andersen với Enron đã khiến công ty kế toán tan rã, một lần nữa dẫn đến hàng nghìn người mất việc.

Một số giám đốc điều hành của Enron đã bị buộc tội âm mưu, giao dịch nội gián và gian lận chứng khoán. Lay, người sáng lập và cựu giám đốc điều hành của Enron, đã bị kết án sáu tội danh gian lận và âm mưu và bốn tội danh gian lận ngân hàng. Trước khi bị tuyên án, anh ta chết vì một cơn đau tim ở Colorado. 

Enron là vụ phá sản doanh nghiệp lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ

Fastow, cựu giám đốc tài chính kỳ cựu của Enron, đã nhận tội với hai tội danh  gian lận chuyển khoản và gian lận chứng khoán vì đã tạo điều kiện cho Enron thực hiện các hoạt động kinh doanh tham nhũng. Cuối cùng, anh ta đã cắt một thỏa thuận hợp tác với chính quyền liên bang và phải ngồi tù hơn 5 năm. 

Skilling, cựu giám đốc điều hành của Enron, cuối cùng phải nhận bản án nghiêm khắc nhất với tội danh âm mưu, lừa đảo và giao dịch nội gián. Skilling ban đầu nhận bản án 17 năm rưỡi, nhưng vào năm 2013, nó đã được giảm xuống còn 14 năm. Là một phần của thỏa thuận mới, Skilling được yêu cầu bồi thường 42 triệu đô la cho các nạn nhân của vụ lừa đảo Enron và ngừng thách thức bản án của anh ta. 

Sự sụp đổ của Enron và sự tàn phá tài chính mà nó gây ra cho các cổ đông và nhân viên của mình đã dẫn đến các quy định và luật mới nhằm thúc đẩy tính chính xác của báo cáo tài chính cho các công ty được tổ chức công khai. Vào tháng 7 năm 2002, Tổng thống lúc bấy giờ là George W. Bush đã ký thành luật Đạo luật Sarbanes – Oxley. Đạo luật này làm tăng hậu quả của việc phá hủy, thay đổi hoặc ngụy tạo báo cáo tài chính và cố gắng lừa gạt các cổ đông. 

 

Vào những năm đầu 2000, sự sụp đổ của Enron là vụ phá sản doanh nghiệp lớn nhất từng xảy ra với thế giới tài chính. Vụ bê bối Enron đã thu hút sự chú ý đến hành vi gian lận kế toán và doanh nghiệp khi các cổ đông của công ty này đã mất 74 tỷ USD trong 4 năm dẫn đến phá sản và nhân viên của công ty mất hàng tỷ USD tiền trợ cấp hưu trí. Các làn sóng chấn động trên khắp các thị trường đã làm lung lay niềm tin của nhà đầu tư vào cốt lõi của nó và các cơ quan quản lý mãi mãi về sau.

Câu chuyện từ vụ bê bối chấn động Enron đã cho chúng ta một bài học sâu sắc rằng đừng bao giờ chỉ sở hữu một cổ phiếu trong danh mục đầu tư. Cho dù câu chuyện của công ty đó có hấp dẫn thế nào thì mối đe dọa về sự đảo chiều mà bạn không thể ngờ có thể đánh úp bạn bất cứ lúc nào. Đặc biệt, nếu bạn là nhân viên và sở hữu cổ phiếu công ty mình, hãy đảm bảo rằng bạn hiểu được việc kinh doanh của công ty đang diễn ra như thế nào và đặc biệt thận trọng khi mua và giữ cổ phiếu đó. Chúc bạn thành công!

 


Tin liên quan

Tiệm bánh 1020 năm tuổi chỉ bán 1 sản phẩm duy nhất, bí quyết nào vượt mọi khủng hoảng?

Duong Duong

TOP 10 mẫu nhà vườn nhỏ đẹp hot nhất 2022

Uyen Hoang Thu

“Bill Gates của Nhật Bản” và 3 bài học đắt giá từ người cha làm nghề nuôi lợn

Duong Duong

Cách tính chi phí xây nhà 2 tầng hết bao nhiêu tiền đầy đủ chi tiết

Uyen Hoang Thu

Do Kwon tiết lộ kế hoạch hồi sinh Luna, hệ sinh thái Terra sẽ ra sao?

Phạm Trang

Hướng dẫn cách mua đồng CEEK và cách tạo ví CEEK mới nhất

Uyen Hoang Thu