Monday, September 26, 2022
Kinh tế Quốc Tế

“Thập niên mất mát” của Nhật Bản và bài học cho các nền kinh tế khác

Thập niên mất mát (Lost Decade) của Nhật Bản và bài học cho các nền kinh tế khác

“Thập niên mất mát” là thời kỳ đình trệ kinh tế kéo dài trong suốt thập niên 1990 của Nhật Bản. Sau khi bong bóng tài sản vỡ vào những năm 1990-1991, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản thấp hẳn đi, kèm theo đó là tỷ lệ thất nghiệp gia tăng nhanh qua từng năm. Hãy cùng lật lại lịch sử và bài học rút ra từ cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài nhất trong lịch sử Nhật Bản là gì qua bài viết dưới đây.

 

CUỘC KHỦNG HOẢNG BẤT ĐỘNG SẢN “THẬP NIÊN MẤT MÁT” CỦA NHẬT BẢN LÀ GÌ?

Thập niên mất mát Nhật Bản

Các nền kinh tế thị trường tự do luôn tuân theo chu kỳChu kỳ kinh tế bao gồm các giai đoạn biến động của sự mở rộng và thu hẹp nền kinh tế được đo bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một quốc gia. Độ dài của các chu kỳ kinh tế (giai đoạn mở rộng và thu hẹp) có thể thay đổi rất nhiều. Thước đo truyền thống của một cuộc suy thoái kinh tế (Recession) là tổng sản phẩm quốc nội giảm hai hoặc nhiều hơn hai quý liên tiếp. 

Nền kinh tế Nhật Bản đã tăng trưởng nhanh chóng sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, đỉnh điểm là vào những năm 1980 với GNP bình quân đầu người cao nhất thế giới. Tuy nhiên, sự phát triển này đã dẫn đến hoạt động đầu cơ gia tăng và giá cả trong thị trường chứng khoán và bất động sản tăng cao vọt.

Đầu những năm 1990, khi rõ ràng rằng bong bóng trong nền kinh tế sắp vỡ, Bộ Tài chính Nhật Bản vẫn lựa chọn tăng lãi suất, thị trường chứng khoán sụp đổ và một cuộc khủng hoảng nợ bắt đầu, kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Nhật Bản sau đó đã trải qua một thời kỳ kinh tế đình trệ và giảm phát giá cả được gọi làThập niên mất mát của Nhật Bản”. 

Trong khi nền kinh tế Nhật Bản phát triển vượt bậc trong thời kỳ này, cuộc khủng hoảng đã làm tốc độ phát triển của nước Nhật chậm hơn nhiều so với các quốc gia công nghiệp phát triển khác. Trong giai đoạn này, nền kinh tế Nhật Bản phải hứng chịu cả những cuộc khủng hoảng tín dụng (Credit Crunch) và bẫy thanh khoản (Liquidity Trap).

BẪY THANH KHOẢN 

Bẫy thanh khoản là gì?

Nền kinh tế Nhật Bản những năm 1980 đã khiến cả thế giới phải ghen tị khi nó tăng trưởng với tốc độ trung bình hàng năm (tính theo GDP) là 3,89%, so với 3,07% ở Hoa Kỳ. Nhưng nền kinh tế Nhật Bản gặp khó khăn trong những năm 1990.

Bẫy thanh khoản xảy ra khi năng lực sản xuất tương lai thấp hơn năng lực sản xuất hiện tại. Paul Krugman cho rằng chính bẫy thanh khoản đã làm cho nền kinh tế Nhật Bản trở nên trì trệ kéo dài. Người tiêu dùng nắm giữ tiền tiết kiệm và ít chi tiêu vì họ sợ rằng nền kinh tế sắp trở nên tồi tệ hơn. Do đó, nhu cầu trong nền kinh tế rất thấp và năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế cũng giảm.

Suy thoái kinh tế

Tỷ lệ chiết khấu của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản là 0,5% trong phần lớn những năm 1990, nhưng nó đã không thể kích thích nền kinh tế Nhật Bản trong khi tình trạng giảm phát vẫn tiếp diễn.

Một số yếu tố mang tính cấu trúc khác cũng góp phần vào sự suy giảm của nền kinh tế như già hóa dân số và sinh ít đã khiến cho nhóm dân số trong độ tuổi lao động ở Nhật Bản giảm trung bình hàng năm 0,7% trong vòng 30 năm tới và giảm 1% trong vòng 25 năm sau đó. Dự tính về lực lượng lao động trong tương lai giảm sẽ làm giảm lợi tức kỳ vọng của đầu tư.

Bên cạnh đó, bong bóng cổ phần và bất động sản của Nhật Bản bắt đầu vỡ từ mùa thu năm 1989. Giá trị cổ phiếu giảm 60% từ cuối năm 1989 đến tháng 8 năm 1992, trong khi giá trị đất đai giảm trong suốt những năm 1990, và giảm đáng kinh ngạc 70% vào năm 2001. Kết quả là, từ năm 1991 đến năm 2003, nền kinh tế Nhật Bản, tính theo GDP, chỉ tăng trưởng 1,14% hàng năm, thấp hơn nhiều so với các quốc gia công nghiệp phát triển khác.

Sai lầm về lãi suất của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản

Người ta thường thừa nhận rằng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) đã mắc một số sai lầm có thể làm tăng thêm và kéo dài những tác động tiêu cực của việc vỡ bong bóng cổ phiếu và bất động sản.

Ví dụ, chính sách tiền tệ đã khiến lo ngại về giá cả gia tăng được gọi là lạm phát và giá tài sản tăng vọt. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã hãm cung tiền vào cuối những năm 1980, điều này có thể góp phần làm nổ bong bóng cổ phiếu. Khi giá trị cổ phiếu giảm, BoJ tiếp tục tăng lãi suất do vẫn lo ngại về việc giá trị bất động sản vẫn đang tăng.

Lãi suất cao hơn góp phần vào việc chấm dứt tình trạng giá đất tăng, nhưng chúng cũng đẩy nền kinh tế nói chung vào vòng xoáy đi xuống. Năm 1991, khi giá cổ phiếu và đất đai giảm, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã đảo ngược đường lối và cắt giảm lãi suất một cách đáng kể. Nhưng lúc này đã quá muộn khi bẫy thanh khoản đã được giăng ra và một cuộc khủng hoảng tín dụng đang bắt đầu.

Thoát khỏi Bẫy thanh khoản

Có những biện pháp tài chính và tiền tệ có thể được thực hiện để thoát khỏi bẫy thanh khoản, nhưng các hộ gia đình và doanh nghiệp phải sẵn sàng chi tiêu và đầu tư.

CÁC BIỆN PHÁP CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA

Chính sách tài khóa tiền tệ thiếu hợp lý

Nhật Bản đã thử một số biện pháp chính sách tài khóa để thoát khỏi bẫy thanh khoản. Chính phủ có thể đưa tiền trực tiếp cho người tiêu dùng thông qua việc giảm thuế suất, phát hành các khoản giảm thuế và chi tiêu công.

Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu phê phán Ngân hàng Nhật Bản đã không thực hiện chính sách tiền tệ hợp lý và đó là một trong những nguyên nhân gây ra thập niên mất mát của nước này. Tiền đã bị lãng phí vào các dự án công trình công cộng kém hiệu quả và được trao cho các doanh nghiệp thất bại. Hầu hết các nhà kinh tế đồng ý rằng để chính sách kích thích tài khóa có hiệu quả, tiền phải được phân bổ một cách hiệu quả. Nói cách khác, hãy để thị trường quyết định nơi chi tiêu và đầu tư bằng cách đặt tiền trực tiếp vào tay người tiêu dùng.

Tăng cung tiền

Một cách khác để thoát khỏi bẫy thanh khoản là “tái thổi phồng” nền kinh tế bằng cách tăng lượng cung tiền thực tế thay vì nhắm vào lãi suất danh nghĩa. Ngân hàng trung ương có thể bơm tiền vào nền kinh tế mà không cần quan tâm đến lãi suất mục tiêu đã được thiết lập (chẳng hạn như lãi suất huy động vốn ở Mỹ) thông qua việc mua trái phiếu chính phủ trong các hoạt động thị trường mở .

Đây là trường hợp khi một ngân hàng trung ương mua một trái phiếu, ngân hàng trung ương sẽ trao đổi nó một cách hiệu quả lấy tiền mặt, điều này cũng góp phần làm tăng cung tiền. Đây được gọi là tiền tệ hóa từ nợ. 

Năm 2001, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản bắt đầu đặt mục tiêu cung tiền thay vì lãi suất. Điều này giúp giảm phát vừa phải và kích thích tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, khi một ngân hàng trung ương bơm tiền vào hệ thống tài chính, các ngân hàng có nhiều tiền hơn nhưng cũng phải sẵn sàng cho vay số tiền đó. Và vấn đề tiếp theo mà Nhật Bản phải đối mặt chính là “khủng hoảng tín dụng”.

SỰ SỤP ĐỔ TÍN DỤNG

Khủng hoảng tín dụng là một kịch bản kinh tế trong đó các ngân hàng đã thắt chặt các yêu cầu cho vay và phần lớn là không cho vay. Các tổ chức tài chính có thể không cho vay vì một số lý do, bao gồm:

  1. Cần phải nắm giữ các khoản dự trữ để sửa chữa bảng cân đối kế toán của ngân hàng sau khi bị thua lỗ, điều đã xảy ra với các ngân hàng Nhật Bản đã đầu tư nhiều vào bất động sản.
  2. Ít chấp nhận rủi ro hơn, sự việc xảy ra ở Hoa Kỳ vào năm 2007 và 2008 khi các tổ chức tài chính ban đầu bị thua lỗ liên quan đến cho vay thế chấp dưới chuẩn đã thu hồi hoạt động cho vay, xóa trung bình bảng cân đối kế toán và thường tìm cách giảm mức độ rủi ro của họ.

Việc cho vay và chấp nhận rủi ro được tính toán thể hiện cốt lõi của nền kinh tế thị trường tự do. Khi vốn được đưa vào hoạt động, việc làm được tạo ra, chi tiêu tăng lên, hiệu quả được phát hiện, dẫn đến năng suất và tăng trưởng kinh tế cao hơn. Mặt khác, khi các ngân hàng “ì ạch” cho vay thì nền kinh tế khó tăng trưởng.

Tương tự như bẫy thanh khoản dẫn đến giảm phát, hạn chế tín dụng cũng dẫn đến giảm phát do các ngân hàng không sẵn sàng cho vay. Do đó, người tiêu dùng và doanh nghiệp không có khả năng chi tiêu khiến giá cả giảm xuống.

GIẢI PHÁP CHO TÌNH TRẠNG KHÓ KHĂN VỀ TÍN DỤNG

Tương tự như bẫy thanh khoản dẫn đến giảm phát, hạn chế tín dụng cũng dẫn đến giảm phát do các ngân hàng không sẵn sàng cho vay. Cho vay ít hơn có nghĩa là có ít tiền mới được bơm vào nền kinh tế. Do đó, người tiêu dùng và doanh nghiệp không có khả năng vay và chi tiêu, mặc dù lãi suất thấp, khiến giá cả tiếp tục giảm. 

Tái cấu trúc Ngân hàng

Khi Nhật Bản trải qua cuộc khủng hoảng tín dụng vào những năm 1990, các ngân hàng Nhật Bản đã chậm chịu lỗ. Mặc dù các quỹ đại chúng đã được cung cấp cho các ngân hàng để cơ cấu lại bảng cân đối kế toán của họ, nhưng họ đã không thực hiện được vì lo sợ bị kỳ thị liên quan đến việc tiết lộ các khoản lỗ được giấu kín lâu nay và sợ mất quyền kiểm soát đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

Thông thường, các khoản lỗ của ngân hàng cần được ghi nhận để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng tín dụng, trong khi hệ thống ngân hàng cần phải minh bạch. Ngoài ra, các ngân hàng phải tự tin vào khả năng đánh giá và quản lý rủi ro của mình.

Chống giảm phát

Giảm phát gây ra nhiều vấn đề vì khi giá tài sản giảm, các hộ gia đình và nhà đầu tư tích trữ tiền mặt vì ngày mai tiền mặt của họ sẽ có giá trị nhiều hơn hiện tại. Kết quả là có thể dẫn đến một cái bẫy thanh khoản. Khi giá tài sản giảm, giá trị của các khoản vay hỗ trợ thế chấp giảm, dẫn đến ngân hàng thua lỗ. Khi các ngân hàng bị thua lỗ, họ cắt giảm cho vay, điều này có thể tạo ra một cuộc khủng hoảng tín dụng.

Thông thường, lạm phát có thể là một vấn đề kinh tế, dẫn đến giá cả tăng và sức mua của người tiêu dùng giảm xuống. Tuy nhiên, việc thổi phồng lại nền kinh tế có thể là cần thiết đối với Nhật Bản để tránh những giai đoạn tăng trưởng chậm kéo dài, như trường hợp của những năm 1990. 

Lạm phát ổn định và vừa phải có thể khiến người tiêu dùng và doanh nghiệp chi tiêu thay vì tích trữ tiền mặt như họ vẫn làm trong môi trường giảm phát.

BÀI HỌC RÚT RA CHO CÁC NỀN KINH TẾ KHÁC

suy thoái kinh tế

Trên thực tế, các nền kinh tế tiên tiến cũng đang phải đấu tranh với những thách thức tương tự Nhật Bản như tăng nợ công, giảm kỳ vọng lạm phát, chậm tăng trưởng, dân số lão hóa và thách thức của Trung Quốc đối với hệ thống kinh tế toàn cầu. Vì thế, chủ đề về “thập niên mất mát” cũng là vấn đề băn khoăn của các quốc gia phương Tây.

Tuy nhiên, một số quốc gia vẫn duy trì được tình trạng tốt hơn so với những quốc gia khác. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã nhanh chóng cắt giảm lãi suất và bắt đầu mua các tài sản tài chính bằng cách sử dụng tiền mới được đúc của họ. Nhưng khu vực châu Âu thì lại không học được kinh nghiệm từ những bài học của Nhật Bản, khi khởi động chương trình nới lỏng định lượng riêng của mình dường như quá muộn và chưa đủ sức mạnh.

Các nước phương Tây có thể sẽ không phải lặp lại những “lối mòn cũ” của Nhật Bản. Vậy suy cho cùng nguyên nhân gốc rễ của cuộc khủng hoảng tại Nhật Bản xuất phát từ việc các chính trị gia đã trì hoãn đối phó với các khoản nợ xấu với lý do lo sợ phản đối. Tiếp đó là việc Chính phủ đã không thể hiện được sự quan tâm kịp thời trước sự biến đổi nhân khẩu học, bất chấp những cảnh báo về vấn đề già hóa dân số và tăng tỷ lệ phụ thuộc đầu những năm thập niên 90.

Có lẽ nguyên nhân chính của “thập niên mất mát” là sự bất lực của các nhà hoạch định chính sách khi vượt qua các lợi ích nhỏ lẻ để hình thành các chiến lược tổng thể hướng đến lợi ích quốc gia, điều này khiến cho các chính sách xuất hiện mà không có sự phối hợp hài hòa. Suy thoái kinh tế một phần là do Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất để hạ nhiệt thị trường bất động sản. Các chính sách của BoJ đã tạo ra một cái bẫy thanh khoản trong khi cuộc khủng hoảng tín dụng đang diễn ra.

 

“Thập niên mất mát” của Nhật Bản là một giai đoạn kéo dài từ khoảng năm 1991 đến năm 2001 chứng kiến ​​sự suy giảm đáng kể trong nền kinh tế vốn nhộn nhịp trước đây của Nhật Bản. Bài học từ “Thập niên mất mát” của Nhật Bản bao gồm việc sử dụng quỹ công để cơ cấu lại bảng cân đối của ngân hàng và ngăn chặn giảm phát và lạm phát gây ra tình trạng trì trệ. Cuối cùng, các nền kinh tế phát triển khác có thể tránh được điều tương tự nếu tỉnh táo đánh giá lại một lượt sự kiện lịch sử này.


Tin liên quan

Vì sao đồng Rúp “hồi sinh” sau cú giảm mạnh lịch sử?

Vào những ngày đầu tiên của chiến tranh Nga-Ukraine, sự sụp đổ của đồng Rúp Nga được coi như một biểu tượng cho việc nền kinh tế Nga bị cô lập khỏi thế giới. Giờ đây, khi cuộc chiến bước sang tháng thứ hai, sự phục hồi mạnh mẽ của...
Vũ Anh

Vợ chồng doanh nhân Ấn Độ sở hữu công ty “Kỳ lân” trong vòng một năm

Một cặp đôi người Ấn Độ đã trở thành vợ chồng đầu tiên của đất nước này xây dựng các công ty khởi nghiệp thành doanh nghiệp được định giá ít nhất 1 tỷ USD, còn được gọi là doanh nghiệp “kỳ lân”. (Startup Unicorn) Vào thứ Tư, Oxyzo Financial...
Vũ Anh

Dubai trở thành tiêu điểm khi cả Thế giới đang săn đón đồng tiền Nga

Với tư cách là một trung tâm tài chính toàn cầu, vị thế của UAE vẫn đang tồn tại một mặt tối và đang bị quốc tế giám sát ngày càng chặt chẽ.   Anh em nhà Gupta bị buộc tội cướp hàng tỷ đô la từ Nam Phi. Isabel...
Vũ Anh

Chiến sự ở Ukraine đe dọa sự phục hồi kinh tế toàn cầu như thế nào?

Xung đột giữa Nga và Ukraine leo thang ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu. Điều đáng lo ngại là những diễn biến căng thẳng này lại diễn ra vào thời điểm vô cùng nhạy cảm khi thế giới đang cố gắng...
Vũ Anh

Các nhà kinh tế dự báo lạm phát của Mỹ sẽ kéo dài đến cuối năm 2022

Các nhà kinh tế đang dự báo lạm phát của Mỹ sẽ kéo dài đến năm 2022, do những hạn chế về chuỗi cung ứng vẫn tồn tại và áp lực giá cả cũng dần lan sang thị trường nhà ở và năng lượng.   Chỉ số giá tiêu dùng...
Vũ Anh

Nền kinh tế Anh tăng tốc nhờ ngành dịch vụ và xây dựng

Nền kinh tế Anh tăng trưởng nhanh do lợi nhuận từ ngành dịch vụ và xây dựng, tuy thấp hơn so với dự báo của Ngân hàng Trung ương Anh do chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ có dấu hiệu giảm.   Tổng sản phẩm quốc nội tăng...
Vũ Anh